tìm bên trong

Cộng đồng Vietstock

Trao đổi và chia sẻ mọi thứ liên quan đến Tài chính - Chứng khoán

Các khái niệm về Quỹ Đầu tư chứng khoán

Bài mới nhất gửi 09-10-2007 13:51, do hoanghaitmdtno1 gửi. 6 trả lời.
Trang 1 trên 1 (7 mục)
Cách sắp xếp: Trước Tiếp
  • 10-17-2003, 5:37 123

  • Không được xếp hạng
    • Tham gia từ 10-07-2003
  • Điểm 307
  • Các khái niệm về Quỹ Đầu tư chứng khoán

    Các định nghĩa cơ bản:

    Quỹ đầu tư chứng khoán:
    Là một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp huy động, tập họp vốn từ các nhà đầu tư pháp nhân/cá nhân trên thị trường thông qua việc phát hành lần đầu rộng rãi ra công chúng và sử dụng vốn vào mục đích đầu tư chứng khoán.

    Tính chất quỹ đóng:
    Là việc người đầu tư không được bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho Quỹ đầu tư trước thời hạn kết thúc thời gian hoạt động hoặc giải thể.

    Chứng chỉ quỹ đầu tư đóng được giao dịch chuyển nhượng tự do trên thị trường chứng khoán.

    Giá trị tài sản ròng (Net Asset Value - NAV)
    Giá trị tài sản ròng (Net Asset Value - NAV) là hiện giá tài sản của quỹ đầu tư.

    NAV = (Tổng giá trị tài sản - Tổng nợ) / Số lượng chứng khoán phát hành

    Trong đó: Tổng giá trị tài sản = Tổng giá trị chứng khoán của quỹ tính theo thị giá + tiền mặt

    NAV của quỹ đầu tư sẽ liên tục biến động theo sự thay đổi giá các loại chứng khoán mà quỹ đầu tư trên thị trường.

    Thị giá của chứng chỉ quỹ đầu tư (Market price)
    Thị giá chứng chỉ quỹ đầu tư là giá thời điểm hiện tại của chứng chỉ quỹ đầu tư được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Thị giá của chứng chỉ quỹ đầu tư biến động tùy thuộc chính vào yếu tố cung cầu trên thị trường.

    Mức Discount/Premium

    MứcPremium/Discount = (Thị giá - NAV) / NAV

    Nếu tỷ lệ này dương thì gọi là Premium, ngược lại là Discount.

    Thông thường tại thị trường chứng các nước phát triển rất ít quỹ đầu tư được giao dịch có mức Premium, mà phần lớn ở mức Discount khoảng từ 15% đến 20%. Chỉ số này không ổn định mà biến động theo các điều kiện của thị trường. Thường những quỹ đầu tư được giao dịch có chỉ số ở mức discount đều có thể đạt được mức premium cao trong tương lai và ngược lại.

    Phương thức hoạt động của Quỹ đóng:
    Đại hội cổ đông của quỹ bầu ra Ban đại diện quỹ (Ban quản trị). Ban này chỉ định một nhà tư vấn (công ty quản lý quỹ) trong việc nghiên cứu đầu tư và quản lý danh mục đầu tư của quỹ.
    Công ty quản lý quỹ cử một người quản lý chuyên nghiệp trực tiếp điều hành hoạt động đầu tư của quỹ. Người này luôn được một đội ngũ những nhà phân tích chuyên nghiệp của công ty quản lý quỹ hỗ trợ trong mọi hoạt động của mình. Người quản lý này có hai nhiệm vụ chính sau:
    Thực hiện tốt các quyết định đầu tư theo đúng chính sách, chiến lược mà bản cáo bạch/Điều lệ quỹ quy định nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận đặt ra.
    Báo cáo đầy đủ, chính xác và kịp thời các bản báo cáo định kỳ (ngày, tháng, quý năm) và các vấn đề liên quan khác cho cổ đông của quỹ.

    Do vậy, sự thành bại của Quỹ đầu tư lệ thuộc rất nhiều vào năng lực của cá nhân người quản lý trực tiếp quỹ đầu tư. Đôi khi nhà đầu tư quyết mua hoặc bán một loại chứng chỉ quỹ đầu tư nào đó chỉ vì nhà quản lý tài ba nào đó hiện đang quản lý hoặc không còn quản lý quỹ đầu tư này nữa.

    Các loại quỹ đóng khác nhau:
    Quỹ đầu tư nội địa đa dạng (Diversified Dosmetic Funds): đầu tư chứng khoán nhiều ngành nghề khác nhau trong nước mà quỹ hình thành.
    Quỹ đầu tư quốc tế (International Funds): đầu tư chứng khoán ở thị trường nước ngoài, nhiều quốc gia khác nhau.
    Quỹ đầu tư chuyên ngành (Sector Funds): đầu tư chứng khoán chuyên một ngành như bất động sản, tài chính ngân hàng, viễn thông, xây dựng, ...
    Quỹ đầu tư trong một nước (Single Country Funds): chỉ đầu tư các loại chứng khoán tại một nước ngoài duy nhất nào đó trên thế giới.
    Quỹ đầu tư trong một khu vực Regional Funds): đầu tư các loại chứng khoán tại một số nước trong khu vực như: Mỹ La tinh, Châu Âu, Chậu Á, Châu Phi,...
    Quỹ đầu tư thị trường mới nổi (Emerging Markets): quỹ chỉ đầu tư chứng khoán tại các thị trường ở các quốc gia phát triển như: Brazile, ...
    Quỹ đầu tư toàn cầu (Global Funds): quỹ chuyên đầu tư chứng khoán trên thị trường Mỹ và thị trường quốc tế với nhiều loại chứng khoán khác nhau của nhiều nước. Tùy theo chiến lược của quỹ, nhiều quỹ toàn cầu có những mục tiêu đầu tư cụ thể như: chỉ đầu tư những loại chứng khoán có giá vốn hoá thị trường thấp hoặc những công ty tư nhân hoá.

    Nguồn: Quỹ Thành Việt
  • 10-17-2003, 5:46 4,239 trả lời cho 123

  • Không được xếp hạng
    • Tham gia từ 10-07-2003
  • Điểm 307
  • RE: Cac khai niem ve Quy Dau tu chung khoan

    Các định nghĩa:

    Chỉ số này được xem là yếu tố quan trọng duy nhất trong việc nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư vào quỹ đầu tư. Để có được sự đánh giá đúng đắn chỉ số này, chúng ta cần hiểu rõ định nghĩa và một số khái niệm khác có liên quan đến nó.

    Discount/Premium
    Khi thị giá cao hơn NAV thì Chứng chỉ quỹ đầu tư được giao dịch ở mức premium so với NAV, ngược lại là Discount.

    VD: Chứng chỉ Quỹ A có thị giá 12.000 VND NAV: 10.000 VND --> Premium 20%
    thị giá 8.000 VND NAV: 10.000 VND --> Discount 20%
    Premium/Discount = (Thị giá - NAV) / NAV

    Mức trung bình động của chỉ số Premium/Discount
    Tỷ lệ Discount/premium cho ta một sự so sánh rõ ràng giữa giá trị hiện tại và giá trị tài sản ròng (NAV) của chứng chỉ quỹ đầu tư. Mức discount càng lớn thì chứng chỉ đó càng được đánh giá là hấp dẫn. Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng nếu chứng chỉ quỹ này luôn được giao dịch ở mức disount cao thì ta cần phải xem xét và phân tích kỹ hơn dựa trên xu hướng biến động gần đây của nó. Ví dụ: Mức trung bình động 15 tuần là mức trung bình của chỉ số Discount/premium hiện tại so với 14 tuần cuối. Thường mức trung bình động được biểu diễn trên đồ thị để ta có thể xác định và dự đoán xu hướng discount là cao, thấp hay ổn định?

    Mức tương đối của discount (Relative Discount)
    Nếu áp dụng khi xem xét cho 1 chứng chỉ quỹ: Chỉ số này được xem xét bổ sung cho mức trung bình động. Nó hiển thị tình trạng chứng chỉ đang được giao dịch ở mức discount cao hơn mức bình thường trong quá khứ hay không. Đó là độ chênh lệch giữa mức discount hiện tại và mức trung bình động của chỉ số premium/discount. Công thức tính như sau:

    Mức tương đối của Discount = Mức Discount - Mức trung bình động của Discount

    Nếu áp dụng khi xem xét nhiều chứng chỉ quỹ: Việc so sánh chỉ số này giữa các loại chứng chỉ quỹ khác nhau cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến quyết định của nhà đầu tư.

    Các yếu tố dài hạn ảnh hưởng đến chỉ số Discount/Premium
    Sự thay đổi của các yếu tố sau có thể gây ảnh hưởng đến mức Discount/Premium và có thể tạo nên 1 mức mới.

    Thói quen đầu tư của người đầu tư:
    Thị trường chứng khoán là một kênh đầu tư còn rất mới mẽ đối với nhà đầu tư Việt Nam. Do đó khả năng thu hút đầu tư vào quỹ trong thời gian đầu sẽ rất khó khăn, cần phải có thời gian lâu dài mới có thể phát triển lâu dài.

    Hiệu quả đầu tư của quỹ đầu tư:
    Khi hiệu quả đầu tư không như kế hoạch chứng chỉ quỹ có thể được giao dịch ở mức discount, nếu ngược lại có thể ở mức premium.

    Thuế: ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, hiệu quả đầu tư của quỹ.

    Mức độ rủi ro khi quỹ đầu tư mạo hiểm:
    Đối với các nước, "quỹ đầu tư đóngmạo hiểm" thưởng đầu tư vào các công ty tư nhân có quy mô vốn nhỏ và các công ty có nguy cơ hoặc đã phá sản. Do đó, mức độ rủi ro rất lớn và rất khó để đánh giá chính xác giá trị danh mục đầu tư của loại quỹ này. Thường đối với loại quỹ đầu tư mạo hiểm mức discount khoảng 30%.

    Các yếu tố ngắn hạn ảnh hưởng đến chỉ số Discount/Premium

    Thường thì các yếu tố ngắn hạn liên quan đến độ thanh khoản, mức độ biến động của thị trường làm cho chỉ số Discount/Premium không ổn định như:
    Thông tin vĩ mô và vi mô trên thị trường lên quan đến quỹ:
    Bất kỳ một thông tin về kinh tế, xã hội hay chính trị liên quan nào đều có thể ảnh hưởng ngắn hạn tạm thời đến chỉ số premium/discount, tùy theo mức độ tốt hay xấu, nhiều hay ít. Đặc biệt đối với thị trường mới nổi.

    Mức độ biến động của thị trường chung:
    Cũng như bất kỳ loại chứng khoán nào khác, chứng chỉ quỹ đầu tư cũng bị chi phối và ảnh hưởng ngắn hạn của thị trường chứng khoán chung.

    Quyền mua chứng chỉ quỹ, Phát hành thêm trên thị trường thứ cấp, Kế hoạch tái đầu tư cổ tức của quỹ:
    Tùy theo mục tiêu đề ra, quỹ sẽ áp dụng hình thức thích hợp. Tuy nhiên các nghiệp vụ này thường áp dụng cho các chứng chỉ quỹ đang giao dịch có mức premium cao. Sau khi được thực hiện, mức premium có khả năng sẽ giảm thích hợp trong thời gian ngắn. Sau đó, giá sẽ có mức premium tăng trở lại nếu quỹ đầu tư hiệu quả.

    Hành động thâu tóm hoặc chuyển thành dạng quỹ mở:
    Trường hợp này thường làm cho mức discount thu hẹp lại hoặc triệt tiêu do mức hấp dẫn danh mục của quỹ tạo cầu vượt cung trong một quỹ.

    NAV giảm mạnh bất ngờ:
    Đôi khi giá thị trường của chứng chỉ quỹ đầu tư biến động chậm hơn NAV. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp NAV của quỹ đột nhiên rớt mạnh do nguyên nhân khách quan như tỷ giá,...
  • 10-17-2003, 5:51 4,240 trả lời cho 123

  • Không được xếp hạng
    • Tham gia từ 10-07-2003
  • Điểm 307
  • RE: Cac khai niem ve Quy Dau tu chung khoan

    Việc đầu tư vào quỹ đầu tư đóng (Closed-end fund) chắc chắn sẽ mang lại cho nhà đầu tư nhiều điều thú vị và bổ ích. Hoạt động của nó phần nào giúp cho thị trường năng động và hoàn thiện hơn.

    Về cơ bản việc đầu tư vào quỹ đầu tư đó sẽ mang lại cho các nhà đầu tư một số lợi điểm sau:
    Thay vì hàng ngày nhà đầu tư phải mất nhiều thời gian để nghiên cứu, phân tích và quản lý khoản tiền đầu tư của mình, quỹ đầu tư sẽ làm thay một cách chuyên nghiệp.
    Các quyết định đầu tư được một ngũ chuyên môn, có uy tín và đầy kinh nghiệm thực hiện.
    Tính thanh khoản cao khi được giao dịch trên thị trường.
    Tạo thêm cho nhà đầu tư nhiều sự lựa chọn đầu tư theo quan điểm và ý thích.

    Việc tập họp thành một quỹ đầu tư với khoản tiền đầu tư lớn thuận tiện cho việc:
    Tăng khả năng thu thập thông tin. kiểm soát và giám sát hoạt kinh doanh của công ty quỹ đầu tư.
    Tìm kiếm và nắm bắt cơ hội đầu tư.
    Phân tán rủi ro nhằm giảm thiểu rủi ro.
    Đa dạng hoá đầu tư: nhiều công ty, ngành, thị trường khác nhau.
    Khả năng lựa chọn trong đầu tư cao hơn.

    Ngoài ra, Việc đầu tư vào quỹ đóng cũng mang lại một số đáng chú ý sau:
    Tính đòn bẩy của mức Discount:
    Khi nhà đầu tư mua một loại chứng chỉ quỹ nào đó ở mức discount thì khả năng sinh lời sẽ cao hơn khi đầu tư vào chứng khoán khác (cổ phiếu, trái phiếu,...). Đây chính là tính đòn bẩy của mức discount. Mức discount càng cao thì tính đòn bẩy càng lớn.

    Ví dụ:
    1 nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ đầu tư A có NAV là 10.000 VND được giao dịch ở mức discount 20% tức 8.000 VND, quỹ này đang đầu tư cổ phiếu B (giá thị trường cổ phiếu B là 10.000 VND).
    Sau đó nhờ vào sự tăng trưởng của thị trường chung, cổ phiếu B tăng gấp đôi giá trị, đồng thời làm cho NAV của chứng chỉ quỹ đầu tư này tăng gấp đôi tức 20.000 VND.
    Ta có bảng so sánh khả năng sinh lời giữa việc đầu tư cổ phiếu B thông qua quỹ A discount 20% và việc đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu B như sau:

    Khoản mục
    Chứng chỉ quỹ A / Cổ phiếu B

    Chi phí vốn đầu tư
    8.000 VND / 10.000 VND

    Giá trị kiểm soát quyền sở hữu
    10.000 VND / 10.000 VND

    Lợi nhuận nếu bán cổ phiếu B sau khi giá tăng
    10.000 VND / 10.000 VND

    Tỷ suất lợi nhuận/vốn đầu tư
    10.000/8.000 = 125% / 10.000/10.000 = 100%

    Như vậy, ta thấy tính đòn bẩy được thể hiện khá rõ trong ví dụ trên. Giả sử sau khi tăng giá mức discount của chứng chỉ quỹ đầu tư A vẫn là 20% thì tại thời điểm này việc đầu tư vào chứng chỉ quỹ A vẫn là sự lựa chọn thích hợp nếu xét thấy danh mục của quỹ còn khả năng tăng trưởng về hiệu quả đầu tư.

    Mức Yield cao hơn:
    Ví dụ 1 chứng chỉ quỹ đầu tư có NAV 10.000 VND, mức cổ tức là 10% NAV tức 1.000 VND, giả sử discount 20%, như vậy tỷ lệ cổ tức trên thị giá là 1.000/8.000 = 12,5%.

    Sư thu hẹp/triệt tiêu của mức Discount:
    Lợi nhuận phát sinh từ việc đầu tư chứng chỉ quỹ đầu tư đóng chủ yếu từ sự gia tăng NAV của quỹ. Tuy nhiên đôi khi lợi nhuận từ sự thu hẹp/triệt tiêu của mức discount rất đáng kể, thậm chí vượt phần lợi nhuận thu được từ việc gia tăng NAV.

    Ví dụ sau sẽ cho ta thấy rõ vấn đề này:
    Cũng với ví dụ trên: 1 chứng chỉ quỹ có NAV 10.000 VND, discount 20%, sau 1 thời gian đầu tư NAV tăng 2 lần từc 20.000 VND. Lúc này ngoài sự gia tăng NAV của quỹ trên, xuất hiện nhiều nhà đầu tư trên thị trường quan tâm và đánh giá cao danh mục đầu tư của quỹ và mong muốn đầu tư vào quỹ làm cho cầu vượt cung. Kết quả là chứng chỉ quỹ được giao dịch ở mức premium 20% tứ 24.000 VND. Như vậy, nếu trước đây đầu tư chứng chỉ quỹ trên giá 8.000 VND thì đến cuối kỳ sau khi đánh giá lại, tỷ suất lợi nhuận thu được trên vốn đầu tư sẽ là (24.000-8.000)/8.000 = 200%, trong khi đó tỷ suất llợi nhuận trên vốn đầu tư thu được từ việc gia tăng NAV là 100% (10.000/10.000).
  • 10-17-2003, 5:56 4,241 trả lời cho 123

  • Không được xếp hạng
    • Tham gia từ 10-07-2003
  • Điểm 307
  • RE: Cac khai niem ve Quy Dau tu chung khoan

    Sự khác nhau giữa Quỹ đóng và Quỹ hỗ tương:

    Có 3 vấn đề chính chỉ rõ sự khác nhau:
    Việc mua và bán cổ phiếu ngân quỹ:
    Quỹ hỗ tương là quỹ dạng mở nên được quyền mua lại chứng chỉ quỹ của chính mình (cổ phiếu ngân quỹ) khi cần giảm số lượng chứng chỉ đang lưu hành trên thị trường và bán chứng chỉ quỹ của mình bằng cách bán lại chứng chỉ ngân quỹ đã mua hoặc phát hành thêm chứng chỉ mới.

    Khác với quỹ hỗ tương, quỹ đóng không được quyền này. Tức là nhà đầu tư chỉ bán lại chứng chỉ quỹ đóng của mình cho nhà đầu tư khác chứ Quỹ không mua lại. Và nếu nhà đầu tư muốn mua chứng chỉ quỹ đóng thì chỉ được mua từ nhà đầu tư khác ngoại trừ khi quỹ huy động lần đầu để thành lập quỹ. Tuy nhiên, một số quốc qia trên thế giới có một số quy định ngoại lệ đối với các trường hợp đặc biệt, cho phép quỹ đóng phát hành thêm trên thị trường thứ cấp, chào bán quyền hay phát hành thêm để tái đầu tư cổ tức.

    Giá cả mua bán của chứng chỉ quỹ:
    Đối với quỹ hỗ tương: giá mua bán chứng chỉ quỹ được công ty quản lý quỹ xác định là giá trị tài sản ròng (NAV) tại thời điểm đóng cửa của ngày giao dịch (một số cá biệt tính từng giờ giao dịch). Nhà đầu tư không có quyền tự chủ trong việc xác định giá mình muốn mua hoặc bán chứng chỉ quỹ này.

    Đối quỹ đóng: giá mua bán chứng chỉ quỹ là giá thị trường được xác định bởi cung cầu thị trường là chủ yếu. Do vậy, nhà đầu tư có quyền tự chủ xác định giá mua hoặc bán theo ý muốn của mình đối với loại chứng chỉ này.

    Các phí phải trả cho việc mua, bán, quản lý điều hành hoạt động của quỹ.

    Đối với quỹ hỗ tương: nhà đầu tư có thể phải hoặc không trả phí môi giới mua bán chứng chỉ quỹ tùy hình thức quỹ là quỹ thu phí (load muatual fund) hay không thu phí (no-load mutual fund). Ngoài ra, nhà đầu tư trả cho công ty quản lý quỹ phí điều hành và quản trị quỹ.

    Đối với quỹ đóng: nhà đầu tư phải trả phí môi giới mua bán cổ phiếu cho nhà môi giới và phí điều hành hoạt động của quỹ cho công ty quản lý quỹ.

    Một số ưu điểm của quỹ đóng so với quỹ hỗ tương dạng mở:

    Có 2 ưu điểm chính:
    Tính chất ổn định của tiền vốn đầu tư
    Như đã nói, do quỹ đóng không được quyền mua/bán cổ phiếu ngân quỹ, do đó giá trị vốn đầu tư được duy trì ổn định trong suốt thời gian hoạt động. Cụ thể là:
    Tính kiên định trong các quyết định đầu tư:

    Vì quỹ hỗ tương là dạng mở nên kỹ năng quyết định của người điều hành quỹ rất quan trọng trong môi trường hoạt động luôn thay đổi nhạy cảm. Lúc thị trường đạt đỉnh, các nhà đầu tư cá nhân có khuynh hướng ồ ạt bán chứng chỉ quỹ buộc nhà điều hành quỹ không có sự lựa chọn nào khác là phải mua lại với giá cao. Ngược lại, khi thị trường xuống mức đáy, các nhà đầu tư có khuynh hướng ồ ạt mua chứng chỉ quỹ, khi đó nhà điều hành quỹ phải bán ra với giá thấp để bình ổn thị trường. Nói tóm lại, cơ cấu mở của quỹ hỗ tương có khuynh hướng buộc nhà điều hành quỹ phải có những quyết định đầu tư ngoài mong muốn như: mua cao, bán thấp hoặc không đầu tư.
    Đối với quỹ đóng, nhà điều hành quỹ có thể thực hiện các quyết định đầu tư mà không bị ảnh hưởng bởi những trạng thái hành động tiêu cực của những nhà đầu tư cá nhân giúp cho vốn đầu tư của quỹ ổn định cho dù mức discount có cao mấy đi chăng nữa.
    Nhiều cơ hội đầu tư hơn.

    Thông thường các loại chứng khoán như: công ty đang trong giai đoạn tiền phát triển, công ty hoạt động kém đang được tái cấu trúc, chứng khoán tại các thị trường mới nổi,...hứa hẹn khả năng sinh lời tiềm năng rất cao trong đầu tư. Tuy nhiên nó lại có tính thanh khoản rất kém. Do vậy, đối với quỹ hỗ tương khả năng dành một ít vốn đầu tư vào nhóm chứng khoán này rất khó, bởi vì khi xuất hiện bất kỳ một dấu hiệu xấu từ nhóm chứng khoán đầu tư này (mà việc này thường xuyên xảy ra), các nhà đầu tư ngay lập tức hoang mang và bán ngay chứng chỉ quỹ, bắt buộc nhà quản lý phải bình ổn bằng nghiệp vụ mua lại cổ phiếu quỹ. Muốn vậy phải có tiền mặt nhưng tính thanh khoản thấp của nhóm chứng khoán này sẽ hạn chế để thực hiện việc này.

    Tuy nhiên, đối với quỹ đóng thì không bị ảnh hưởng bởi tình trạng trên do vốn đầu tư luôn ổn định trong suốt quá trình đầu tư. Do vậy, quỹ đóng có thể dành một phần nhỏ trong danh mục đầu tư của mình đầu tư vào các loại chứng khoán này mặc dù tính thanh khoản thấp.

    Kiểm soát được giá cả giao dịch trên thị trường của chứng chỉ quỹ

    Đối với quỹ hỗ tương, giá mà nhà đầu tư cá nhân có thể mua hay bán được xác định bởi NAV cuối ngày giao dịch. Đối với quỹ đóng, nhà đầu tư cá nhân có cơ hội lựa chọn thời điểm mua hay bán chứng chỉ quỹ, giúp nhà đầu tư gia tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro đầu tư của mình.

    Tính đòn bẩy của sự co lại/triệt tiêu mức discount

    Điều này không xảy ra đối với dạng quỹ mở của quỹ hỗ tương bởi vì giá của chứng chỉ quỹ được giao dịch tại mức NAV.

    Ví dụ: 1 chứng chỉ quỹ đóng có NAV 10.000 VND, thị giá 8.000 VND (discount 20%). Giả sử thị trường tăng làm NAV của chứng chỉ quỹ tăng 50% tức 15.000 VND, đến lúc này thị giá của chứng chỉ được giao dịch ở mức premium 20% tức 18.000 VND. Vậy nếu đầu tư thì tỷ suất lợi nhuận đạt (18.000-8.000)/8.000 = 125%, trong khi đó nếu đây là chứng chỉ quỹ mở thì chỉ đạt mức lợi nhuận trên vốn đầu tư là (15.000-10.000)/10.000 = 50%.

    Tính đòn bẩy của mức discount cao:
    Đối với quỹ hỗ tương, nhà đầu tư được nhận mức cổ tức trên NAV của chứng chỉ quỹ, giả sử 10% tức 1.000 VND. Đối với quỹ đóng, mức cổ tức trên thị giá sẽ cao hơn nếu giá chứng chỉ quỹ được giao dịch ở mức discout, ví dụ yield sẽ là 1.000/8.000= 12,5% nếu discount 20%.

    Sự bảo vệ của mức discount cao
    Nếu nhà đầu tư mua được chứng chỉ quỹ đóng ở mức discount lớn không thường xuyên thì mức độ bảo toàn vốn rất cao khi thị trường xuống dốc. Trong một vài trường hợp thị giá có thể tăng thêm cho dù NAV và thị trường giảm sút, đa số là giảm nhưng hầu như rất ít khi giảm mạnh mộ cách đột ngột. Do vậy, nhà đầu tư có đủ thời gian để giảm tối đa mức thua lỗ của mình.

    Trong khi đó, đối với quỹ hỗ tương giá mua bán thị trường là NAV. Do vậy, khi NAV giảm thì nhà đầu tư sẽ lỗ. Khả năng giảm thiểu rủi ro rất thấp trong trường hợp này đối với quỹ hỗ tương.

    Những bất lợi tiềm ẩn của việc đầu tư vào quỹ đóng:
    Có một số bất lợi chính như: sự co lại mức premium, sự không ổn định, tính thanh khoản và phí môi giới.

    Sự so lại mức premium:
    Tính đòn bẩy của mức disount/premium rất có lợi nếu ta mua chứng chỉ quỹ ở mức discount lớn , thị trường tăng, mức discount dần được thu hẹp hoặc có thể thay đổi đến mức premium, nhà đầu tư sẽ đạt được mức lợi nhuận rất cao nhờ vào công cụ đòn bẩy này.

    Tuy nhiên, ta cần lưu ý trong trường hợp ngược lại, nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ ở mức premium thái quá, sau đó thị trường xuống làm cho giá được giao dịch ở mức NAV hoặc thậm chí ở mức discount, nhà đầu tư có thể bị thiệt hại nặng bởi cả 2 yếu tố: sự sụt giảm NAV và sự thu hẹp lại của mức premium.

    Nói tóm lại, nhà đầu tư cần phải đặc biệt thận trọng và xem xét thật kỹ khi đầu tư chứng chỉ quỹ ở mức premium hoặc mức discount thấp trong quá khứ, dù cho thị trường đang lên và có thể có mức lợi nhuận nào đó nếu đầu tư, nhưng rủi ro tiềm tàng về lâu dài là rất lớn thường xảy ra trong trường hợp này. Đặc biệt khi thị trường đang ở mức đỉnh.

    Tuy nhiên ta có thể nhìn vấn đề này ở một khía cạnh khác, Chứng chỉ quỹ thường không thường xuyên giao dịch ở mức premium lớn hay mức discount thấp trong quá khứ, đây cũng là cơ hội tốt cho các nhà đầu tư tài năng áp dụng nghiệp vụ bán khống khi dự đoán đúng thị trường sẽ đi xuống. Kể cả khi thị trường vẫn tiếp tục lên thì giá chứng chỉ quỹ cũng có thể xuống do sự hồi phục mức discount/premium thường thấy của chứng chỉ quỹ đầu tư.

    Lưu ý các nhà đầu tư rằng: mua bán khống là một công cụ mang lại cho nhà đầu tư có thể đạt nhiều lợi nhuận nếu ta dự đoán đúng, còn ngược lại, nó rất rủi ro. Do đó, trước khi nhà đầu tư muốn thực hiện nghiệp vụ này, nên tham khảo hoặc nhờ sự tư vấn của các chuyên gia chứng khoán.

    Tính thanh khoản
    Hiện nay, đa số các quỹ đóng của các nước được giao dịch tại thị trường NYSE có tính thanh khoản rất cao. Tuy nhiên cũng có một số quỹ đóng có tính thanh khoản rất thấp, thậm chí chỉ vài trăm chứng chỉ 1 ngày được giao dịch. Một lời khuyên chân tình là các nhà đầu tư nên tránh đầu tư các quỹ này. Lý do là một khi các nhà đầu tư không quan tâm đến quỹ đóng nào đó thì rất dễ xảy ra tình trạng bán phong trào với giá thấp. Đối với quỹ hỗ tương trong trường này quỹ sẽ mua lại để bình ổn thị trường.

    Tuy nhiên, đôi khi các nhà đầu tư tài năng lại coi đây là một cơ hội tìm kiếm lợi nhuận kếch xù với phương châm: "Mua khi mọi người bán và bán khi mọi người mua". Khi đó, thanh khoản không còn là vấn đề cần quan tâm nữa. Các nhà đầu tư tài năng nhận định rằng tình hình giao dịch ảm đạm loại chứng chỉ quỹ này sẽ chấm dứt trong thời gian tới một khi hiệu quả đầu tư của quỹ tăng cao.

    Tính không ổn định của thị trường đầu tư mạo hiểm
    Nhiều quỹ đóng trên thế giới thường đầu tư vào những thị trường nước ngoài như thị trường mới nỗi,... Tại những thị trường này, mức dao động 10% hàng ngày là thường xuyên, thậm chí có thể 50% một tuần. Điều này sẽ không phù hợp đối với một nhà đầu tư bảo thủ, họ thích đầu tư các quỹ đóng nội địa đa ngành hơn vì nó ổn định và đáng tin cậy hơn.

    Tuy nhiên, các nhà đầu tư tài năng lại thích tiềm kiếm lợi nhuận trong những trường hợp này. Bời vì khi thị trường dao động mạnh thì khả năng giá giao dịch chứng chỉ quỹ đóng từ mức discount chuyển đến mức premium rất thường xảy ra.

    Phí môi giới
    So với quỹ hỗ tương không thu phí (No-load mutual fund) thì quỹ đóng bất lợi hơn về phí môi giới phải trả cho các nhà môi giới.
  • 10-17-2003, 6:03 4,242 trả lời cho 123

  • Không được xếp hạng
    • Tham gia từ 10-07-2003
  • Điểm 307
  • RE: Cac khai niem ve Quy Dau tu chung khoan

    Theo Dõi Hoạt Động Các Quỹ

    Có một vài tiêu chuẩn để đo được kết quả kinh doanh của một quỹ. Tiêu chuẩn quan trọng nhất là liệu quỹ đó có đáp ứng được mục tiêu đầu tư của quỹ hay không.

    Cho dù một quỹ tương hỗ hướng tới mục tiêu là thu nhập hiện tại, tăng trưởng dài hạn hoặc cả hai thì có ba cách để theo dõi hoạt động của quỹ đó và quyết định liệu quỹ đó có thể đem lại lợi nhuận cho bạn hay không. Các nhà đầu tư có thể đánh giá một quỹ dựa trên:

    Theo dõi những biến động trong giá cổ phiếu hay giá trị tài sản thuần (NAV)
    Tính lợi suất
    Tính tổng lợi nhuận thu về
    Bạn có thể so sánh hoạt động của một quỹ với những quỹ tương tự mà các công ty khác cung cấp, hoặc bạn cũng có thể đánh giá quỹ đó trong mối tương quan với các cách đầu tư khác, ví dụ như trái phiếu hoặc cổ phiếu.
    Do lợi nhuận thu về thường được tính theo các cách khác nhau cho mỗi loại đầu tư nên thường không có một tiêu chuẩn đơn giản nào để có thể so sánh đầu tư vào các quỹ với mua các chứng khoán đơn lẻ.

    Biến động NAV
    NAV của một quỹ là giá trị tính bằng $ một cổ phiếu trong cổ phiếu của quỹ đó. Nó được tính bằng cách chia giá trị hiện hành của quỹ chia cho số cổ phiếu đang giao dịch của quỹ. NAV của một quỹ tăng lên khi giá trị các cổ phiếu quỹ nắm giữ tăng lên. VD, nếu một cổ phiếu của quỹ trị giá 15$ hôm này và 9$ năm ngoài, điều đó có nghĩa là giá trị mà quỹ nắm giữ đã tăng khoảng 66% và bạn có thể bán cổ phiếu đó để thu lợi nhuận.

    Giá trị quỹ / Số cổ phiếu = NAV

    Ví dụ:
    52.500.000$ / 3.500.000 = 15$

    Lợi suất
    Lợi suất tính thu nhập mà một quỹ cung mang lại theo tỷ lệ phần trăm trên NAV của quỹ. Một quỹ trái phiếu dài hạn có NAV 10$ trả lợi nhuận phân chia là 58 cent một cổ phiếu có lợi suất là 58%. Bạn có thể so sánh lợi suất của mọt quỹ tương hỗ với lợi suất hiện hành của các loại đầu tư khác để quyết định loại đầu tư nào mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Ví dụ, kết quả kinh doanh quỹ trái phiếu thường được theo dõi trên mối tương quan với các trái phiếu (xem phần Trái phiếu - Tính giá trị một TP) đơn lẻ hoặc chỉ số trái phiếu
    LN phân chia mỗi CPhần / Giá trên mỗi CPhần = Lợi suất(%)

    Ví dụ
    0,58$ / 10$= 5,8%

    Tổng lợi nhuận
    Tổng LN của một quỹ là số tiền hàng năm mà các khoản đầu tư quỹ tương hỗ thay đổi (về giá trị) cộng với LN quỹ phân chia cho khoản đầu tư đó. Con số này được thông báo rõ ràng là LN phần trăm, tính bằng cách chia giá trị tính bằng đô la của tổng thu nhập cho tộng khoản đầu tư ban đầu. Ví dụ, một khoản đầu tư 8.000$ có tổng thu nhập một năm là 1.250$ (tăng 1.000$ về giá trị cộng với 250$ LN tại đầu tư) có tỷ lệ LN phần trăm là 15,6%
    Thay đổi giá+cổ tức / Chi phí đầu tư ban đầu = Tổng LN(%)

    Ví dụ
    1.250$ / 8.000$ = 15,6%

    Xem lợi nhuận thu về
    Thước đo chính xác nhất kết quả kinh doanh trong hiện nay và quá khứ của một quỹ tương hỗ là tổng lợi nhuận thu về của quỹ đó, hay giá trị tăng lên công với lợi nhuận phân chia đã tái đầu tư. Tổng lợi nhuận thường được thông báo trong một số khoản thời gian, và cụ thể là chừng nào quỹ còn hoạt động. Khi con số này được tính trên thời hạn dài hơn một năm, nó sẽ được tính đều đặn hàng năm, hoặc chuyển sang một con số hàng năm bằng cách chia tổng thu nhập của thời kỳ đó cho số năm.
    Trong khi không có gì có thể đảm bảo rằng kết quả hoạt động tương lai của một quỹ sẽ bằng với các kết quả hiện tại hoặc quá khứ, rất nhiều chuyên gia chỉ ra rằng một bảng ghi tổng LN cao từ trước đến nay có thể coi như một nền tảng hợp lý để có thể dựa vào đó đưa ra các quyết định đầu tư.
    Một trong số các yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận thu về của một quỹ là xu hướng phát triển của một hoặc nhiều thị trường nơi quỹ sẽ đầu tư, kết quả của portfolio đầu tư của quỹ cũng như mức phí và chi phí của quỹ đó.

    Duy trì kết quả
    Hàng ngày, Tạp chí phố Wall xuất bản một cuốn Sổ tay kết quả Quỹ tương hỗ (Mutual Fund Scorecard), tập trung vào một hạng mục quỹ nào đó trong số 32 hạng mục mà tạp chí xếp loại. Cuốn sổ này cung cấp các thống kê kết quả của 15 quỹ có LN hoạt động tốt nhất và 10 quỹ hoạt động kém nhất trong hạng mục đó, xếp hạng theo tổng lợi nhuận của các quỹ trong 52 tuần qua (1 năm), cũng như theo lợi nhuận trung bình của cả hạng mục quỹ và số lượng quỹ trong hạng mục đó. (hiện có 1.169 quỹ, tăng 47 quỹ so với năm ngoái)

    Bảng kết quả Quỹ tương hỗ sẽ thông báo tài sản của mỗi quỹ hoặc số tiền mà mỗi quỹ đầu tư. Quy mô của một quỹ có thể có ảnh hưởng chủ yếu đến thành tích hoạt động của quỹ đó, bởi vì khi một quỹ càng lớn, quỹ đó càng khó có thể giao dịch các cổ phiếu đủ nhanh để tận dụng các thay đổi trên thị trường.

    Bạn cũng có thể phán đoán kết quả kinh doanh của quỹ trong hai chu kỳ giá tăng và giá xuống gần nhất nếu các quỹ đã hoạt động một thời gian đủ lâu để đạt được các kết quả như vậy.

    Các quỹ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng thường đầu tư vào các cổ phiếu mà họ dự đoán là sẽ tăng lớn về giá trị nhưng tăng ít về các thu nhập hiện hành. Quỹ hiện được xếp hạng cao nhất, quỹ Grand Prix, có tổng thu nhập lớn gấp đôi các quỹ xếp hạng ở vị trí từ 10 đến 15 trong năm qua, mặc dù giá của quỹ đã giảm xuống trong 4 tuần trước đó. Và giống như phần lớn các quỹ có mục tiêu tăng trưởng, quỹ này có một lịch sử hoạt động ngắn.

    Ngược lại, các quỹ có lịch sử hoạt động kinh doanh kém nhất đều có thu nhập theo chiều hướng xấu - một khoản lỗ - trong một năm, mặc dù một số quỹ đã hoạt động tốt trong vài tuần vừa qua.

    (Theo Mezfin)
  • 08-12-2007, 20:34 349,610 trả lời cho 4,239

  • Top 10
    • Tham gia từ 06-24-2007
  • Điểm 23,823
  • Re:RE: Cac khai niem ve Quy Dau tu chung khoan

    Sách cũ không phải là dỡ, coi cho vui đi các bác.
    Bang Chủ Cái Bang
    10 000
  • 09-10-2007, 13:51 388,563 trả lời cho 4,241

  • Top 500
    • Tham gia từ 09-10-2007
  • Điểm 2,272
  • Cac khai niem ve Quy Dau tu chung khoan

    Quỹ đầu tư (2007-09-05 02:09:20)

    Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác.

    Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác.

    Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ bởi 5 yếu tố: Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư; tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận; được quản lý chuyên nghiệp; giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền; tính năng động của quỹ đầu tư.

    Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư.

     

Trang 1 trên 1 (7 mục)
Copyright © 2001-2009 Vietstock, Điều kiện Sử dụng